Ứng dụng ITS trong các đô thị lớn góp phần giảm ùn tắc

Vấn đề ùn tắc giao thông (UTGT) tại các đô thị lớn, đặc biệt là TP.HCM và Hà Nội ngày càng trầm trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và môi trường tại các đô thị này.

Để giải quyết vấn đề này cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như quy hoạch đô thị, cơ sở hạ tầng và các giải pháp kỹ thuật nâng cao công tác điều hành quản lý giao thông.

Khảo sát tại một số mô hình quản lý giao thông tại các nước như Nhật Bản, Anh, Thái Lan, Singapore cho thấy hệ thống giao thông đô thị được phân chia thành các trục đường tốc độ cao (ít giao cắt) và loại hình giao thông đô thị thông thường (nhiều giao cắt), tương ứng với mỗi loại hình có phương pháp điều hành và quản lý riêng. Tuy nhiên các mô hình này không thể rập khuôn áp dụng cho các đô thị ở Việt Nam do có sự khác xa về quy hoạch cũng như đặc thù của văn hóa giao thông Việt Nam. Các nội dung dưới đây trình bày một kiến trúc tổng thể của hệ thống giao thông thông minh có thể áp dụng trong quản lý giao thông đô thị.

 

Mô hình ITS bao gồm 11 lĩnh vực dịch vụ sau:

Thông tin cho người tham gia giao thông: Cung cấp đến người sử dụng cả thông tin tĩnh và thông tin động về mạng lưới giao thông, trong đó có các khả năng chọn tuyến và phương tiện.

Quản lý và khai thác giao thông: Điều hành chuyển động các xe, người tham gia giao thông và người đi bộ trong mạng lưới giao thông đường bộ. Nhóm dịch vụ này liên quan đến việc quản lý và điều khiển giao thông thông qua sử dụng các công nghệ ITS. Nó bao gồm các vấn đề điều khiển giao thông đô thị (các tuyến phố, các khu vực trung tâm thương mại...) và giữa các đô thị (đường bộ, đường cao tốc...). Các chiến lược điều khiển có thể là đặt chu kỳ đèn trực tuyến, điều khiển các đường nhánh ra vào đường cao tốc, phân luồng động tránh khu vực xảy ra tai nạn, ùn tắc... Ngoài ra nó còn cung cấp khả năng kiểm tra và giải quyết các sự cố trong mạng lưới giao thông, ứng dụng và phát triển các chiến lược quản lý, điều khiển đáp ứng nhu cầu giao thông như quản lý lối vào, đặt biểu giá từng khu vực theo chất lượng không khí, đặt biểu giá theo ách tắc, đặt biểu giá bến đỗ, quản lý giá vé vận tải công cộng.

Dịch vụ xe: Tăng cường an toàn, hiệu quả trong khai thác xe thông qua việc cảnh báo và hỗ trợ cho người sử dụng hoặc điều khiển xe. Các dịch vụ có thể sử dụng thông tin từ bên ngoài hoặc chỉ sử dụng thông tin bên trong xe như tăng cường tầm nhìn, điều khiển xe tự động (tự động bám làn, tự động đỗ xe, chạy theo đoàn, chạy tốc độ cực chậm), tránh va chạm (liên quan đến việc sử dụng các cảm biến và các hệ thống điều khiển để kiểm soát khả năng có thể xảy ra va chạm, nhắc nhở kịp thời lái xe hoặc kích hoạt tự động thao tác tránh),...

Vận tải hàng hóa: Điều hành các xe và đoàn xe vận tải, thương mại, trong đó bao gồm cả các hoạt động thúc đẩy vận tải đa phương thức, vận tải hàng hóa qua biên giới theo đặt hàng.

Vận tải công cộng: Khai thác các dịch vụ vận tải công cộng và cung cấp các thông tin hoạt động cho người điều hành cũng như người sử dụng, kể cả vận chuyển đa phương thức. Nhóm dịch vụ này liên quan đến ứng dụng khả năng của ITS để khai thác, lập kế hoạch và quản lý các hoạt động vận tải công cộng. Nó bao gồm việc cung cấp thông tin trực tuyến về vị trí xe, xác nhận xuất bến, đỗ bến theo lộ trình, số lượng hành khách, chế độ làm việc của động cơ, áp suất lốp, trợ giúp việc lập kế hoạch điều động xe, giảm thiểu sự sai lệch trong liên kết giữa các phương thức vận tải.

Khẩn cấp: Các dịch vụ ứng cứu tai nạn. Các nhóm dịch vụ trong lĩnh vực này mô tả các hoạt động cho phép các dịch vụ cấp cứu trở nên nhanh hơn trong toàn bộ mạng giao thông gồm: An ninh con người và báo hiệu cấp cứu giao thông, tìm kiếm xe bị mất cắp, quản lý xe khẩn cấp (liên quan đến điều hành, hướng dẫn đường, kỹ thuật tín hiệu ưu tiên đối với các xe khẩn cấp như cứu hỏa, công an, cấp cứu). Báo hiệu tai nạn và vật liệu nguy hiểm.

Thanh toán điện tử liên quan đến giao thông: Thanh toán và đặt chỗ trong các dịch vụ liên quan đến giao thông. Lĩnh vực này liên quan đến các hoạt động cho phép thu các loại phí sử dụng dịch vụ và phương tiện giao thông thông qua hình thức trả tiền không bằng tiền mặt và không dừng.

An toàn con người liên quan đến giao thông đường bộ: Bảo vệ người tham gia giao thông, trong đó có người đi bộ và người tàn tật. Các nhóm dịch vụ trong lĩnh vực ATGT đường bộ này bao gồm các hoạt động bảo vệ an toàn cho người đi bộ và các cá nhân sử dụng phương tiện giao thông.

Kiểm tra các điều kiện thời tiết và môi trường: Các hoạt động kiểm tra, lưu ý về các điều kiện thời tiết và môi trường. Các nhóm dịch vụ trong lĩnh vực kiểm tra điều kiện thời tiết và môi trường có ảnh hưởng tới mạng lưới giao thông và người tham gia giao thông.

Quản lý và điều phối ứng cứu thảm họa: Các hoạt động dựa trên giao thông đường bộ để ứng cứu các thảm họa thiên nhiên, biến động xã hội hay khủng bố.

An ninh quốc gia: Các hoạt động trực tiếp bảo vệ hay làm giảm thiệt hại đối với con người và tài sản do thảm họa thiên nhiên, biến động xã hội hay tấn công khủng bố.

Việc ứng dụng các công nghệ hiện tại về kỹ thuật điện tử và công nghệ thông tin trong công tác điều hành và quản lý giao thông đô thị trong những năm gần đây có những bước tiến lớn trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tuy nhiên để xây dựng một mô hình tiêu chuẩn cho Việt Nam hiện nay chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong một hệ thống gây lãng phí tiền đầu tư và không hiệu quả trong sử dụng. Trong các nghiên cứu tại Trường ĐH GTVT hướng tới xây dựng một bộ tiêu chuẩn chung của hệ thống ITS phù hợp với đặc thù giao thông Việt Nam.

 

Tác giả: PGS-TS. Lê Hùng Lân, TS. Nguyễn Thanh Hải - Khoa Điện - Điện tử, Trường Đại học GTVT

Tags

[Trở về] [Đầu trang] In bài viết Gửi cho bạn bè

Các tin khác:
Tìm chúng tôi trên Facebook
Đóng [X]