Tính bền vững trong phát triển đô thị và những thách thức đối với Việt Nam

Hội thảo Quốc tế với chủ đề "Thiết kế và Kiến trúc bền vững" do Hội đồng Anh tổ chức vừa diễn ra tại TP.HCM trong hai ngày 29 và 30/3 với sự tham dự của nhiều KTS, nhà nghiên cứu đô thi đến từ Vương quốc Anh và một số nước trên thế giới cùng đông đảo các KTS, nhà quản lý đô thị, giảng viên, sinh viên kiến trúc Việt Nam. TS Nguyễn Thanh Nghị - Thứ trưởng Bộ Xây dựng - là diễn giả đặc biệt của Hội thảo. Bài tham luận của ông đã nêu bật những cố gắng và thách thức mà Việt Namphải vượt qua để xây dựng một nền kiến trúc bền vững.Sau đây là những đề mục nhỏ trong bài:

 

Hiu thế nào v phát trin bn vng?

Phát triển bền vữnglà một khái niệm về sự phát triển mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển đáp ứng nhu cầu trong tương lai. Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội, là một lựa chọn mang tính chiến lược và là mục tiêu hướng tới mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm. Mỗi quốc gia sẽ dựa vào những đặc điểm riêng của mình để hoạch định chiến lược phát triển bền vững sao cho phù hợp nhất với quốc gia đó.

Việt Namlà một quốc gia đang phát triển. Quá trình phát triển của Việt Namđang phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững như biến đổi khí hậu, môi trường ô nhiễm, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên... Chính vì vậy, Hội thảo với chủ đề “Thiết kế và kiến trúc bền vững” là một sự kiện hết sức có ý nghĩa cho sự phát triển của Việt Namnói chung, cho ngành Xây dựng Việt Namnói riêng và đặc biệt là cho công tác đào tạo của ngành Xây dựng.

Khái niệm "phát triển bền vững" (sustainable development) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".

Năm 1987, trong bài báo có tiều đề: “Tương lai chung của chúng ta” (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc,phát triển bền vững được định nghĩa cụ thể hơn đó là "sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại nhưng không trở ngoại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau...". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội phát triển công bằng, văn minh và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các chính quyền, các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội... phải cùng nhau có trách nhiệm thực hiện nhằm mục đích dung hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội - và bảo vệ môi trường.

Thách thức đối với Việt Nam

Sau hơn 25 năm đổi mới và phát triển, Việt Namđã đạt được nhiều thành tựu tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường. Nền kinh tế Việt Namđã chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định. Sản xuất nông nghiệp luôn đạt mức tăng trưởng cao. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, đến nay, Việt Namđã đảm bảo được an ninh lương thực và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao và ổn định. Các ngành dịch vụ được mở rộng với chất lượng ngày càng được nâng lên. Cơ sở hạ tầng được cải thiện đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của các thành phần kinh tế, đã làm cho tỷ lệ hộ đói nghèo trong cả nước giảm xuống 14% trong năm nay. Việt Namcó quan hệ thương mại với 165 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và là địa điểm đầu tư hấp dẫn của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Với mức thu nhập bình quân đầu người trên 1.200 USD, hiện Việt Nam đã ra khỏi danh sách những nước nghèo chậm phát triển và trở thành một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người đạt mức trung bình. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt.

Tuy nhiên, trong những năm qua, phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải. Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao; các dịch vụ cơ bản về giáo dục và y tế hiện còn bất cập, các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để… đang là những vấn đề bức xúc. Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiện quả. Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động. Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa đồng bộ để có thể kết hợp một cách hiệu quả giữa 3 mặt của sự phát triển: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Trong các chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cũng như của các ngành và địa phương, 3 mặt quan trọng trên đây của sự phát triển cũng chưa thực sự được kết hợp và lồng ghép chặt chẽ với nhau.

Định hướng chiến lược phát triển bền vững

Nhận thức được thực trạng và các thách thức đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đưa ra và chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, làm cơ sở đẩy mạnh phát triển bền vững tại Việt Nam. Chính phủ Việt Namđã tham gia một cách tích cực vào các chương trình và hội nghị phát triển bền vững của LHQ. Sắp tới đây, Đoàn Chính phủ Việt Namsẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh của LHQ về phát triển bền vững tại Rio de Janeiro(Braizil). Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ Việt Namđã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”(Chương trình Nghị sự 21). Đây là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ XXI. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là căn cứ để cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cũng như xây dựng chiến lược quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương nhằm kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Định hướng chiến lược phát triển bền vững Việt Nam gồm 5 phần, trong đó nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên. Định hướng chiến lược được xây dựng trên 8 nguyên tắc phát triển cơ bản, và đề ra 19 vấn đề cần ưu tiên bao gồm 5 vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế, 5 vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội và 9 vấn đề thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Thực hiện định hướng chiến lược, các hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Namtrong những năm qua ngày càng được quan tâm, chú trọng và đi vào chiều sâu hơn, có hiệu quả hơn. Việc xây dựng ban hành các chính sách và văn bản pháp luật được hoàn thiện hơn; phát triển và tổ chức quản lý kinh tế - xã hội - môi trường được tăng cường hơn, các hoạt động ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng… ngày càng có hiệu quả; đầu tư ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường, phát triển bền vững tăng lên… Việc huy động toàn dân tham gia công tác này đã có nhiều tiến bộ.

Chương trình hành động của ngành Xây dựng

Ngành Xây dựng giữ một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Là lĩnh vực kiến tạo cơ sở vật chất để phát triển đô thị, phát triển quốc gia, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, ngành Xây dựng trên thế giới tiêu thụ 17% lượng nước ngọt, 25% lượng gỗ khai thác, sử dụng 30 - 40% năng lượng trong tổng năng lượng sử dụng, sử dụng 40 - 50% nguyên vật liệu thô, chiếm 33% tổng lượng phát thải CO2 toàn thế giới. Điều này cho thấy, để giảm thiểu biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, ngành Xây dựng đóng vai trò có tính quyết định. Trong đó lĩnh vực nhà ở là đối tượng quan trọng nhất để giảm khí thải nhà kính gây nên biến đổi khí hậu.

Ý thức sâu sắc được nhiệm vụ đó, Bộ Xây dựng Việt Namđã xây dựng Chương trình Phát triển bền vững của Ngành. Theo tinh thần “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, ngành Xây dựng triền khai nhiều nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Tôi xin tập trung trình bày các nội dung chính, đó là: đặc biệt chú trọng công tác quy hoạch phát triển -đô thị và nhà ở; phát triển, áp dụng các công nghệ xây dựng, vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng và phát triển, ứng dụng xu hướng công trình xanh. Cụ thể:

Về vấn đề phát triển nhà ở,để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của xã hội, Bộ Xây dựng đang tập trung chỉ đạo, triển khai các chương trình phát triển nhà ở xã hội, nhà ở theo chương trình 167 cho dân nghèo, chương trình nhà ở cho cụm tuyến dân cư vùng vượt lũ... Các chương trình nhà ở này được đánh giá cao và thực sự đóng góp quan trọng cho xã hội, đảm bao an ninh xã hội, mang tính nhân văn, vì con người. Tuy nhiên, lĩnh vực nhà ở vẫn là thách thức cho Việt Nam. Mới đây, Chính phủ Việt Namđã phê duyệt chiến lược phát triển nhà ở quốc gia. Bộ Xây dựng đang triển khai, cụ thể hóa chiến lược này.

Về công trình xanh,Chính phủ Việt Nam và đặc biệt là Bộ Xây dựng hiện đang rất quan tâm đến ứng dụng công nghệ xanh trong các công trình xây dựng, trong đó quan tâm đến công tác thiết kế, sử dụng vật liệu xây dựng không các-bon, vật liệu tái chế , sử dụng hệ thống nước thải tái chế, tiết kiệm nước... Việc ứng dụng công nghệ xanh mang lại nhiều lợi ích về môi trường, đảm bảo phát triển bền vững, có độ bền cao và giúp cho việc quản lý tòa nhà được hiệu quả hơn nên những công trình xây dựng áp dụng những công nghệ xanh ở mức độ cao là rất cần thiết. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, việc ứng dụng công nghệ xanh trong các công trình xây dựng hiện ở Việt Nam mới chỉ là khởi đầu với chi phí đầu tư ban đầu khá lớn nên việc ứng dụng, triển khai cũng gặp khó khăn là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ xanh trong công trình xây dựng sẽ là xu hướng tất yếu sẽ được xã hội hưởng ứng, và áp dụng rộng rãi trong thời gian tới.

Phát triển đô thị bền vững vì con người

Một trong các lĩnh vực ưu tiên của các định hướng chiến lược phát triển bền vững quốc gia là phát triển đô thị bền vững. Trong quá trình phát triển, hệ thống đô thị Việt Namđang đối mặt với nhiều thách thức.“Tốc độ tăng trưởng và đô thị hóa cao đã dẫn đến sự mất cân đối trong khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Mạng lưới giao thông tại các đô thị lớn chưa đủ khả năng phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển, tình trạng tắc nghẽn giao thông xảy ra thường xuyên, tỷ lệ vận tải hành khách công cộng còn thấp. Chiếu sáng tại nhiều đô thị chưa được quan tâm đúng mức. Môi trường đô thị chưa được kiểm soát chặt chẽ, các công trình xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất tại nhiều đô thị chưa được đầu tư xây dựng, nhiều nhà máy xí nghiệp vẫn xả trực tiếp nước thải không qua xử lý môi trường đã gây ô nhiễm hệ thống sông, hồ. Tỷ lệ bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh còn thấp. Nhiều đô thị chưa quan tâm đến khí thải và tiếng ồn trong đô thị.

Công tác quản lý đô thị chưa theo kịp thực tiễn phát triển như khả năng dự báo của công tác quy hoạch chưa đáp ứng xu thế phát triển đô thị. Phát triển các khu đô thị mới chưa xuất phát từ quy hoạch, kế hoạch. Kết nối hạ tầng giữa các khu đô thị chưa được quan tâm, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội triển khai chậm, thiếu đồng bộ, công tác quản lý môi trường đô thị chưa chặt chẽ. Tình trạng lãng phí đất đai trong các đô thị chưa được khắc phục, hiệu quả đầu tư xây dựng còn thấp ảnh hưởng đến phát triển bền vững và diện mạo đô thị…”.

Để giải quyết các thách thức trên và nhằm để phát triển đô thị Việt Nam một cách bền vững, Bộ Xây dựng Việt Nam đang chủ trì xây dựng và triển khai Chương trình phát triển đô thị bền vững, Chương trình phát triển đô thị Quốc gia với những nhiệm vụ rất cụ thể. Xuyên suốt nội dung của các chương trình này, con người được xác định là đối tượng để đô thị phục vụ và đồng thời là chủ thể điều khiển và tác động lên quá trình phát triển, con người sáng tạo ra đô thị, sử dụng và quản lý đô thị. Do vậy, quá trình phát triển đô thị bền vững tại Việt Nambao gồm các yếu tố sau:

- Phát triển đô thị bền vững trên cơ sở chính sách, thể chế, quản lý phát triển đô thị bền vững;

- Phát triển đô thị bền vững trên cơ sở đồng thuận tham gia thực hiện của các tầng lớp dân cư, xã hội và các cấp chính quyền;

- Phát triển đô thị bền vững trên cơ sở có hệ thống giám sát, đánh giá kịp thời các tiêu chí phát triển đô thị bền vững.

Phát triển bền vững đô thị Việt Nam được thể hiện trong việc tổ chức không gian phù hợp; chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đảm bảo đồng bộ, đầy đủ, hiện đại, kết nối tốt với khu vực xung quanh, hệ thống giao thông tiếp cận đến các khu vực công cộng, khu ở cho mọi đối tượng, đáp ứng trước mắt cũng như lâu dài; nâng cao chất lượng công trình; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường tại các khu đô thị; thực hiện tiết kiệm trong đầu tư xây dựng như sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, phù hợp với đặc điểm, điều kiện khí hậu địa phương, lựa chọn ứng dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ thích hợp để tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải rắn, nước thải; sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió; tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm đất đai bằng việc tổ chức và khai thác các không gian trong khu đô thị hợp lý; nâng cao chất lượng dịch vụ, đời sống văn hoá tinh thần của dân cư khu đô thị”; nghiên cứu và phát triển các mô hình đô thị mới “đô thị thông minh (Smart city)”, “đô thị sinh thái (Eco-city)”; triển khai thiế kế và xây dựng các mô hình kiến trúc xanh, công trình tiết kiệm năng lượng… Xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về kiến trúc xanh, công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng để thống nhất áp dụng và quản lý trong cả nước.

Biến tư duy thành hành động

Chúng ta đang sống trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI với 3 đặc trưng nổi bật: Một là, phát triển bền vững đã trở thành chiến lược phát triển của toàn thế giới. Hai là hội nhập và toàn cầu hóa và ba là biến đổi khí hậu đã trở thành thách thức lớn của toàn nhân loại. Trong bối cảnh đó, mỗi quốc gia cần phải lựa chọn để xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho riêng mình.

Tại Việt Nam, bên cạnh những thành công đã đạt được, thách thức cho phát triển bền vững còn gay gắt. Thông qua hội thảo này, một lần nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh và thể hiện quyết tâm: phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội; phát triển bền vững là vì con người và do con người. Vì vậy, chúng ta cần huy động lực lượng, sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, với sự tham gia tích cực của từng người dân; quyết tâm biến tư duy phát triển bền vững đất nước thành hành động thường xuyên, cụ thể của mỗi con người, vì chất lượng cuộc sống hôm nay và mai sau của cá nhân, gia đình, cộng đồng và cả đất nước.

TS Nguyễn Thanh Nghị

Theo Báo Xây dựng điện tử

Tags

[Trở về] [Đầu trang] In bài viết Gửi cho bạn bè

Các tin khác:
Tìm chúng tôi trên Facebook
Đóng [X]